Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch sử 8 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930- 1945

docx 17 Trang Tuyết Minh 4
Bạn đang xem tài liệu "Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch sử 8 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930- 1945", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch sử 8 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930- 1945

Chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Lịch sử 8 - Chuyên đề: Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1930- 1945
 BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI SỬ 8
Giai đoạn lịch sử 1930- 1945.
Trong mỗi giai đoạn lịch sử, người giáo viên cần xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức mở 
rộng, nâng cao để có phương pháp giảng dạy phù hợp. Trong giai đoạn 1930- 1945 của Lịch sử 
Việt Nam, tôi có thể đưa ra 1 số dạng câu hỏi cụ thể như sau:
 1. Kiến thức trọng tâm:
+ Nguyên nhân diễn biến, kết quả, ý nghĩa của phong trào cách mạng 1930-1931 và cuộc vận 
động dân chủ 1936- 1939.
+ Những cuộc khởi nghĩa mở đầu cho thời kỳ đấu tranh mới (Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam kỳ, Binh 
biến Đô Lương): Nguyên nhân, diễn biến, kết quả, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm)
+ Sự chuyển chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939; 1939-1945.
+ Mặt trận Việt Minh và công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa.
+ Cao trào kháng nhật cứu nước( Hoàn cảnh, diễn biến, ý nghĩa)
+ Cách mạng tháng Tám: Thời cơ, diễn biến, nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, tuyên ngôn 
độc lập 2.9.1945)
 2. Kiến thức nâng cao
+ So với thời kỳ 1930- 1931 chủ trương sách lược của Đảng và hình thức đấu tranh trong thời kỳ 
1936- 1939 có gì khác? Vì sao?
+ Tại sao nói phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh và phong 
trào cách mạng 1936- 1939 là hai cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cách mạng tháng 8- 1945?
+ Bối cảnh lịch sử và chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của đảng trong thời kỳ 1939- 
1945?
+ Mặt trận Việt Minh có vai trò như thế nào đối với cách mạng tháng 8 -1945?
 + Hãy phân tích yếu tố khách quan và chủ quan dẫn đến thời cơ Cách mạng tháng Tám 
năm 1945? Tại sao nói đây là thời cơ ngàn năm có một?
 3. Những định hướng cơ bản ( Hướng dẫn trả lời các câu hỏi trong giai đoạn 1930- 
1945)
Câu1: Tình hình Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới? Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933 là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và sâu sắc 
nhất trong lịch sử CNTB. Nó chấm dứt thời kỳ ổn định tạm thời của CNTB trong những năm 20.
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 không những tàn phá nặng nề các nước TB mà còn ảnh 
hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế các nước thuộc địa trong đó có VN: Sản xuất đình đốn, 
hàng hoá ế ẩm, nhiều xí nghiệp nhất là của tư sản VN và những người sản xuất nhỏ bị phá sản, 
công viên chức bị sa thải ngày càng nhiều, nạn thất nghiệp thường xuyên bị đe doạ, nông dân đói 
khổ, điêu đứng vì nạn khủng hoảng kinh tế
Sau cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, thực dân Pháp tiến hành khủng bố trắng trợn, gắt gao trên 
phạm vi toàn quốc. Cả nước bao trùm 1 không khí bắt bớ, đàn áp. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ yêu 
nước bị bắt, tù đày. Trong tình hình đó, ĐCS VN ra đời 3.2.1930 là nguồn cổ vũ lớn lao đối với 
công nhân, nhân dân lao động.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công nhân, nhân dân cả nước liên tiếp vùng lên đấu tranh.
Câu 2: Nguyên nhân, diễn biến phong trào cách mạng 1930- 1931? Vì sao ở Nghệ Tĩnh 
phong trào lại lên cao như vậy?
* Nguyên nhân:
- Do nhân dân ta bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề. Thêm vào đó tác động của cuộc 
khủng hoảng KT 1929-1933 làm cho kinh tế NN, CN, TN nước ta suy sụp. Đời sống nhân dân đã 
khổ lại càng khổ thêm, do vậy, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với đế quốc phong kiến ngày càng 
sâu sắc.
- Đầu 1930 khởi nghĩa Yên Bái thất bại, TD Pháp khủng bố đàn áp dã man lại càng làm tăng 
thêm lòng căm thù đế quốc của nhân dân ta.
Trong bối cảnh đó, ĐCS VN ra đời đã tập hợp và lãnh đạo cách mạng, biến sự căm thù của quần 
chúng thành hành động cách mạng đó là đấu tranh.
Nhận xét: Trong 3 nguyên nhân ấy thì nguyên nhân Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng là 
nguyên nhân cơ bản nhất quyết định sự bùng nổ phong trào.
* Diễn biến:
Phong trào đấu tranh của quần chúng bùng lên mạnh mẽ từ 1929 trên khắp đất nước. Đến năm 
1930- 1931 phát triển tới đỉnh cao với sự ra đời của Xô Viết – Nghệ Tĩnh.
- 2.1930 cuộc bãi công của 3000 công nhân đồn điền cao su Phú Riềng.
- 4.1930 là các cuộc bãi công của 4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, hơn 400 công nhân 
nhà máy diêm và nhà máy cưa Bến Thuỷ, nhà máy xi măng Hải Phòng - Phong trào đấu trnh của nông dân đã diễn ra ở nhiều địa phương như: Hà Nam, Thái Bình, 
Nghệ An,, Hà Tĩnh 
- Đặc biệt là ngày 1.5.1930, lần đầu tiên công nhân và các tầng lớp nhân dân Đông Dương tỏ rõ 
dấu hiệu đoàn kết với vô sản thế giới và biểu dương lực lượng của mình. (Đòi tăng lương, giảm 
giờ làm, bỏ sưu, giảm thuế, đòi bồi thường cho các gia đình bị tàn sát trong cuộc KN Yên 
Bái cuộc đấu tranh được Liên Xô ủng hộ. Chính quyền TD đàn áp, bắn vào đoàn biểu 
tình làm 7 người chết, 18 gười bị thương, bắt 98 người)
- Từ thành phố đến nông thôn trong cả nước đã xuất hiện nhiều truyền đơn, cờ đảng, mít tinh, bãi 
công, biểu tình, tuần hành các cuộc đấu tranh của công nhân đã nổ ra trong các xí nghiệp ở Hà 
Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn- Chợ Lớn 
- Các cuộc đấu tranh của nông dân nổ ra ở nhiều địa phương thuộc các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, 
Nghệ An, 
( Các cuộc khởi nghĩa lan rộng trong cả nước. Trong tháng 5 có 21 cuộc đấu tranh ở Bắc 
kỳ, 21 cuộc ở Trung kỳ, 12 cuộc ởNam kỳ; Trong đó có 16 cuộc đấu tranh của công nhân, 
34 cuộc đấu tranh của nông dân, 4 cuộc của HS và dân nghèo thành thị.)
- Nghệ Tĩnh là nơi phong trào diễn ra mạnh nhất. Tháng 9.1930 phong trào công – nông đã phát 
triển tới đỉnh cao. Khẩu hiệu đấu tranh chính trị được kết hợp với các khẩu hiệu kinh tế. Các 
cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt. Quần chúng tổ chức tuần hành thị uy, biểu tình có vũ trang tự 
vệ, tấn công vào cơ quan chính quyền địch ở địa phương.
+ 01.9.1930: 20 ngàn nông dân Thanh Chương biểu tình đòi bỏ thuế, giảm thuế, thả tù chính 
trị Pháp nổ súng bắn vào đoàn biểu tình, nhưng những người biểu tình vẫn tiến vào huyện 
đường phá nhà giam, thả tù chính trị, đốt hồ sơ sổ sách và dinh tri huyện. Bọn hào lý địa phương 
bỏ chạy, hầu hết các thôn xã thuộc huyện Thanh Chương trong tình trạng không có chính quyền.
+ 05.9 Nhân dân huyện Anh Sơn biểu tình ủng hộ nhân dân Thanh Chương 
+ 8-11.9 Khí thế đấu tranh càng sôi sục, hàng chục ngàn nông dân Nam Đàn, Thanh Chương, 
Diễn Châu, Anh Sơn, Nghi Lộc nổi dậy
+ 12.9.1930 tại Hưng Nguyên hơn 20 ngàn nông dân liên kết với nông dân Nam Đàn tổ chức 
biểu tình lớn. Đoàn xếp hàng dài hơn 1km kéo về thành phố Vinh, đi đầu là những người cầm cờ 
đỏ, hai bên là những đội viên tự vệ được trang bị dao, gậy. Trên đường đi, đoàn biểu tình dừng 
lại để diễn thuyết, chỉnh đốn đội ngũ. Dòng người càng đi càng được bổ sung thêm. Khi đến gần 
Vinh con số lên tới 30 vạn người và xếp thành hàng dài tới 4km. TD Pháp đàn áp dã man, chúng 
cho máy bay ném bom, dùng súng liên thanh bắn vào đoàn biểu tình làm chết 217 người, bị 
thương 125 người, đốt cháy 277 nóc nhà. Hai làng Lộc Châu, Lộc Hải bị triệt hạ hoàn toàn. Sự 
đàn áp dã man của P không ngăn nổi đoàn biểu tình .
* Kết quả: - Bộ máy chính quyền của TD Pháp và phong kiến tay sai ở nhiều huyện bị tê liệt, ở nhiều xã bị 
tan rã
 - Các chính quyền Xô Viết được thành lập.
*Vì sao phong trào ở Nghệ Tĩnh lên cao như vậy?
- Bên cạnh những nét chung của cả nước, Nghệ Tĩnh có những nét riêng:
+ Chịu ách thống trị của ĐQ, PK rất nặng nề.
+ Là vùng đất nghèo, nhân dân Nghệ Tĩnh có truyền thống cách mạng.
+ Cơ sở công nghiệp Vinh, Bến Thuỷ là trung tâm kỹ nghệ lớn nhất ở trung kỳ, là điều kiện 
thuận lợi cho liên minh công – nông.
+ Các tổ chức cộng sản và cơ sở Đảng ở đây khá mạnh.
Nhận xét: Đây là phong trào cách mạng mới ở Việt Nam do Đảng của giai cấp công nhân lãnh 
đạo, phong trào nổ ra đều khắp cả nước, rầm rộ lôi cuốn nông dân và các tầng lớp nhân dân lao 
động tham gia
Câu 3: Chính quyền Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời trong hoàn cảnh nào? Nêu những việc làm 
của chính quyền Xô Viết rồi rút ra nhận xét?.
*Hoàn cảnh ra đời: Trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền của TD Pháp 
và PK tay sai ở nhiều huyện bị tê liệt, ở nhiều xã bị tan rã. Các ban chấp hành nông hội xã do các 
chi bộ Đảng lãnh đạo đứng ra quản lý mọi mặt về đời sống chính trị và xã hội, ở nông thôn, làm 
nhiệm vụ của chính quyền nhân dân theo hình thức Xô Viết. Thực chất đó là 1 chính quyền cách 
mạng sơ khai do giai cấp công nhân lãnh đạo.
*Những việc làm của chính quyền Xô Viết
- Về chính trị: Chính quyền đã ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân, quần chúng được tự 
do hội họp, thảo luận và hoạt động trong các tổ chức đoàn thê cách mạng: Nông hội, công hội, 
hội phụ nữ giải phóng, đoàn thanh niên phản đế, hội học sinh, hội cứu tế đỏ tổ chức các cuộc 
mít tinh, hội nghị để tuyên truyền giáo dục ý thức chính chị cho quần chúng.
- Về kinh tế: Chia ruộng đất công cho nông dân, giảm tô, xoá nợ, bãi bỏ các thứ thuế vô lý, bất 
công do ĐQ, PK đặt ra.
- Về VH- XH: Chính quyền Xô Viết tổ chức cho nhân dân thực hiện đời sống mới, mở lớp dạy 
chữ quốc ngữ, xoá bỏ tệ nạn xã hội, bài trừ mê tín dị đoan, xây dựng tình đoàn kết 
-Về quân sự: Mỗi làng đều có đội tự vệ vũ trang, do vậy trị an được đảm bảo, nạn trộm cướp 
không còn. *Nhận xét: Tuy chính quyền mới thành lập ở 1 số xã, thời gian tồn tại chỉ được 4-5 tháng nhưng 
qua những việc làm trên, chính quyền Xô Viết đã tỏ rõ bản chất cách mạng và tính ưu việt của nó 
đã đem lại nhiều lợi ích căn bản cho nhân dân. Chính quyền Xô Viết thật sự là chính quyền cách 
mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng (Chính quyền của dân, do dân, vì dân)
Câu 4 : Hoàn cảnh lịch sử và chủ trương của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939 như thế nào? 
 a.Hoàn cảnh lịch sử:
 * Thế giới: 
-Do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929- 1933 giai cấp tư sản lũng đoạn nhiều nước tìm 
lối thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng cách thiết lập chế độ phát xít ( Italia, Đức, Nhất)
Chủ nghĩa phát xít ra đời, chúng xoá bỏ mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân, ráo riết chuẩn bị 
chiến tranh chia lại thế giới, chủ yếu là tiêu diệt Liên Xô và phong trào cách mạng vô sản thế 
giới 
Trước nguy cơ đó, Đại hội VII Quốc tế Cộng sản ( 7.1935) chỉ ra kẻ thù chính trước mắt của 
nhân dân lao động thế giới là chủ nghĩa phát xít. Vì vậy phải tập trung mũi nhọn chống phát xít. 
Đại hội chủ trương mỗi nước thành lập một mặt trận nhân dân để tập hợp rộng rãi các lực lượng 
dân chủ chống phát xít, chống chiến tranh bảo vệ hoà bình thế giới.
Thực hiện nghị quyết của Quốc tế cộng sản nhiều nước đã thành lập mặt trận nhân dân. 1936 mặt 
trận nhân dân Pháp lên nắm quyền đã thực hiện 1 số chính sách tiến bộ như cho nhân dân thuộc 
địa được hưởng 1 số quyền tự do dân chủ 
*Trong nước: 
Hậu quả kéo dài của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 làm cho đời sống các tầng lớp, giai 
cấp bị ảnh hưởng. Thêm vào đó đế quốc Pháp ở Đông Dương vẫn thi hành những chính sách bóc 
lột, vơ vét, khủng bố, đàn áp làm cho đời sống của nhân dân ta càng thêm đói khổ, ngột ngạt.
 Một số tù chính trị được thả, họ đã nhanh chóng hoạt động trở lại.
 b. Chủ trương của Đảng trong thời kỳ 1936- 1939
Cách mạng Việt Nam là 1 bộ phận của cách mạng thế giới, căn cứ vào tình hình thế giới và trong 
nước, tiếp thu nghị quyết của Quốc tế cộng sản, Đảng ta nhận định kẻ thù trước mắt, cụ thể của 
nhân dân lúc này là bọn phản động Pháp và bè lũ tay sai không chịu thi hành chính sách của Mặt 
trận nhân dân Pháp tại các thuộc địa
Tạm gác khẩu hiệu “ Đánh đổ đế quốc Pháp, Đông Dương hoàn toàn độc lập”, “ Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày” nêu nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông 
Dương là “ Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và tay 
sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình”
 Thành lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương năm 1936 ( đến tháng 3.1938 mặt trận 
dân chủ Đông Dương) nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước dân chủ, tiến bộ đấu tranh chống 
chủ nghĩa phát xít bảo vệ hoà bình thế giới.
 Hình thức và phương pháp đấu tranh : Hợp pháp, nửa hợp pháp, công khai, nửa công khai 
khi cần thì rút vào bí mật để bảo toàn lực lượng của ta.
 Như vậy do hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên chủ trương của Đảng cũng thay đổi, điều đó 
chứng tỏ Đảng đã trưởng thành hơn trong việc chỉ đạo sách lược đấu tranh.
 Câu 5: So với thời kỳ 1930- 1931 chủ trương sách lược của Đảng và hình thức đấu 
tranh trong thời kỳ 1936- 1939 có gì khác? Vì sao?
Nội dung 1930- 1931 1936- 1939
 Thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai không chịu 
Kẻ thù Đế quốc, phong kiến thi hành chính sách của mặt trận Nhân dân 
 Pháp
 Hoãn khẩu hiệu “ Đánh đổ đế quốc Pháp, Đông 
 Chống đế quốc, giành độc lập Dương hoàn toàn độc lập”, “ Tịch thu ruộng 
Nhiệm vụ( Khẩu 
 dân tộc, chống phong kiến, giành đất của địa chủ chia cho dân cày” mà nêu các 
hiệu)
 ruộng đất cho dân cày khẩu hiệu: Chống phát xít, chống chiến tranh, 
 đòi tự do, cơm áo hồa bình
 Thành lập Mặt trận Nhân dân phản đế Đông 
Mặt trận Dương, sau đổi thành mặt trận dân chủ Đông 
 Dương
 Bí mật, bất hợp pháp
Hình thức, phương Hợp pháp, nửa hợp pháp; công khai, nửa công 
pháp đấu tranh khai 
 Bậo động vũ trang
Câu 6: Tại sao nói phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh và 
phong trào cách mạng 1936- 1939 là hai cuộc tổng diễn tập chuẩn bị cho cách mạng tháng 
8- 1945?
a. Cao trào cách mạng 1930-1931 mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc tổng diễn tập 
lần thứ nhất:
- Mặc dù cuối cùng vẫn bị thất bại, song phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là 
XVNT là thuận lợi đầu tiên, có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển tiếp theo của cách mạng. Phong trào đã tạo ra những nhân tố đầu tiên đảm bảo cho thắng lợi hoàn toàn của 
sự nghiệp cách mạng.
- Phong trào đã khẳng định thực tế vai trò lãnh đạo của Đảng qua phong trào này, uy tín của 
Đảng được xác lập trong quần chúng, phong trào chứng tỏ đường lối cách mạng của Đảng là 
đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng cơ bản của nhân dân là “ Độc lập dân tộc” và “ Người cày có 
ruộng”
Một kết quả to lớn nữa là phong trào đã xây dựng được khối liên minh công nông, cùng với sự ra 
đời của Đảng Cộng sản, khối liên minh công nông là nhân tố quyết định thắng lợi cách mạng sau 
này.
- Qua phong trào, lần đầu tiên quần chúng đã tạo ra một hình thức chính quyền mới, một mô 
hình xã hội mới ở nước ta.
 - Trong quá trình đấu tranh, đội ngũ cán bộ được thử thách và rèn luyện 
- Phong trào đã khẳng định sự trưởng thành của giai cấp công nhân, uy tín của Đảng được nâng 
cao trong phong trào Cộng sản và công nhân Quốc tế.
 - Cao trào cách mạng 1930- 1931 đã để lại những bài học kinh nghiệm quí giá:
 + Bài học về vai trò lãnh đạo của Đảng
 +Bài học về thực hiện liên minh công- nông
 + Bài học về sử dụng bạo lực cách mạng
 + Bài học về xây dựng chính quyền.
Chính vì những lẽ trên, phong trào cách mạng 1930- 1931 mà đỉnh cao là XVNT là cuộc tổng 
diễn tập lần thứ nhất cho cách mạng tháng Tám 1945.
 b. Phong trào cách mạng 1936- 1939 là cuộc tổng diễn tập lần thứ hai.
- Nếu như phong trào cách mạng 1930- 1931 đã tạo ra những nhân tố cơ bản đảm bảo cho thắng 
lợi cách mạng tháng 8.1945, thì phong trào cách mạng 1936- 1939 lại tiếp tục bồi bổ và phát 
triển những nhân tố đó lên một bước cao hơn.
- Thông qua phong trào này Đảng đã được trưởng thành thêm về tư tưởng và tổ chức. Nền tảng 
tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác- Lê Nin ngày càng thêm thấm nhuần trong tư tưởng, hành 
động của các đảng viên cộng sản đã ăn sâu, toả rộng trong các tầng lớp nhân dân. Đảng đã xây 
dựng và phát triển được một đội ngũ cán bộ có năng lực giàu kinh nghiệm, đồng thời phát triển 
thêm các tổ chức cơ sở, tăng cường mối dây liên hệ với quần chúng. Qua phong trào nghệ thuật 
chỉ đạo chiến lược của Đảng, trình độ giác ngộ của đảng viên và uy tín của đảng được nâng lên 
một bước rõ rệt. - Cùng với sự trưởng thành của đảng, lực lượng cách mạng cũng lớn mạnh không ngừng, qua 
thực tế đấu tranh đảng đã xây dựng một đội quân chính trị hùng hậu gồm hàng triệu người ở cả 
thành thị và nông thôn tập hợp trong một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi đó là Mặt trận dân 
chủ Đông Dương, cũng qua đấu tranh mà quần chúng cách mạng được tôi luyện và thử thách dày 
dạn.
- Phong trào cách mạng 1936- 1939 còn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí giá cho giai đoạn 
cách mạng sau:
 + Đó là bài học về tổ chức, tập hợp quần chúng đấu tranh.
 + Bài học về sử dụng hình thức và phương pháp đấu tranh phong phú, về khẩu hiệu đấu 
tranh 
- Phong trào cách mạng 1936- 1939 đã chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa Đảng và quần 
chúng cách mạng bước vào thời kỳ đấu tranh trực tiếp giành chính quyền. Vì vậy, đây là cuộc 
tổng diễn tập lần thứ hai chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 -1945.
Câu 7: Nguyên nhân bùng nổ và thất bại, diễn biến, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm 
của khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ?
*Nguyên nhân bùng nổ:
- 9.1940 Nhật xâm lược Đông Dương, Pháp đầu hàng nhục nhã dâng nước ta cho Nhật
- Pháp – Nhật câu kết với nhau áp bức , bóc lột nhân dân ta 
- Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với Pháp- Nhật sâu sắc dẫn đến bùng nổ các cuộc khởi 
nghĩa.
* Diễn Biến
- Khởi nghĩa Bắc Sơn ( 27.09.1940): .
- Khới nghĩa Nam Kỳ ( 23.11.1940) ..
* Kết quả: Thất bại
 * Nguyên nhân thất bại:
- Khởi nghĩa Bắc Sơn: Thời cơ mới chỉ xuất hiện ở địa phương chứ chưa phải trên khắp cả nước 
nên Pháp có điều kiện tập trung lực lượng đàn áp.
- Khởi nghĩa Nam Kỳ: Chưa có điều kiện thuận lợi, kế hoạch bị bại lộ nên địch đã chuản bị đối 
phó. * Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm:
- Thể hiện nguyện vọng giải phóng dân tộc của nhân dân
- Nêu cao tinh thần yêu nước bất khuất của nhân dân ta.
- Khởi nghĩa vũ trang là phương pháp cách mạng được nhân dân hưởng ứng để thực hiện nhiệm 
vụ dân tộc.
- Để lại cho Đảng ta những bài học kinh nghiệm về:
+ Khởi nghĩa vũ trang
+ Xây dựng lực lượng vũ trang và chiến tranh du kích ..
Câu 8: Hoàn cảnh ra đời, chương trình hành động của mặt trận Việt Minh? Mặt trận Việt 
Minh có vai trò như thế nào đối với cách mạng tháng 8. 1945?
a. Hoàn cảnh ra đời và chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh?
- 9. 1940 phát xít Nhật vào Đông Dương câu kết với Pháp với Pháp áp bức bóc lột nhân dân ta 
rất rã man tàn bạo đẩy nhân dân ta vào chỗ khốn cùng, nhân dân ta rất căm thù chúng muốn vùng 
dậy giành độc lập tự do.
- Chiến tranh thế giới lần thứ 2 sắp bước vào giai đoạn mới, tình hình thế giới và trong nước đòi 
hỏi ta phải khẩn trương xúc tiến xây dựng lực lượng chờ thời cơ khởi nghĩa vũ trang giành chính 
quyền.
- Trước tình hình đó, thực hiện nghị quyết hội nghị lần VIII BCH trung ương Đảng họp từ ngày 
10- 19.5.1941 ở Pắc Pó ( Cao Bằng) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì chủ trương thành lập 1 mặt trận 
đoàn kết dân tộc rộng rãi.
- Ngày 19.5.1941 mặt trận Việt Minh được thành lập nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước 
trong dân tộc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, cứu 
nước, cứu nhà
 b. Chương trình hành động.
Sau khi ra đời, Việt Minh đã công bố cương lĩnh 10 điểm của mình thể hiện 3 nội dung chính 
sau:
- Về mục đích: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập.. - Về đối nội: Xây dựng nền kinh tế tài chính độc lập, xoá bỏ mọi thứ thuế vô lý, thực hiện quyền 
tự do dân chủ, dân tộc bình đẳng, nam nữ bình quyền.
- Về đối ngoại: Chủ trương thân thiện với tất cả các nước coi trọng nền độc lập của VN.
- Với cương lĩnh 10 điểm Việt Minh nhanh chóng trở thành ngọn cờ tập hợp lực lượng, xây dựng 
khối đoàn kết toàn dân đứng lên cứu nước. Mười chính sách ấy là một kinh nghiệm cho việc xác 
định đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn của nước ta ngày nay.
c.Vai trò của mặt trận Việt Minh đối với cách mạng tháng 8-1945.
- Mặt trận Việt Minh đã tập hợp mọi lực lượng yêu nước để xây dựng khối đoàn kết toàn dân 
trong 1 tổ chức chính trị quần chúng 
- Bằng báo chí của mình, bằng những cuộc hội họp mít tinh Việt Minh đã tuyên truyền đường lối 
chính sách của Đảng trong quần chúng, đấu tranh chống mọi thủ đoạn chính trị, văn hoá của 
địch, thu hút đông đảo quần chúng vào hàng ngũ cách mạng, tích cực đấu tranh. Việt Minh là sợi 
dây chuyền nối Đảng với quần chúng.
- Khắp nơi, mặt trận Việt Minh đã tổ chức được những đoàn thể cứu quốc như: Hội nông dân 
cứu quốc, Hội thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc hình thành lực lượng chính trị to lớn 
trong cả nước.
- Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng ở vùng Cao- Bắc- Lạng, Thái Nguyên dần 
dần phát triển rộng ra khắp nước. Xây dựng căn cứ vững chắc ở Cao- Bắc- Lạng làm cơ sở xây 
dựng lực lượng vũ trang.
- Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, Việt Minh đã lãnh đạo cao trào kháng Nhật, tổ chức những cuộc 
khởi nghĩa từng phần ở địa phương, rải truyền đơn, căng biểu ngữ, biểu tình, tuần hành, đánh 
chiếm kho thóc Việt Minh đã tập dượt cho quần chúng đấu tranh.
- Trong những ngày tổng khởi nghĩa, Tổng bộ Việt Minh đã đứng ra triệu tập quốc dân Đại Hội 
Tân Trào, trực tiếp kêu gọi, tổ chức huy động lực lượng quần chúng đấu tranh giành chính quyền 
dưới sự lãnh đạo của đảng giành thắng lợi.
Tóm lại: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Minh có vai trò to lớn trong việc chuẩn bị và tổ chức 
tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 
 Câu 9: Vì sao phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp vào tháng 3/1945 ở Đông 
Dương? Trước sự kiện này, Đảng Cộng sản Đông Dương đã có chủ trương và hành động gì 
để tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945?
 * Vì sao phát xít Nhật đảo chính thực dân Pháp vào tháng 3/1945:
 - Về bản chất : Đế quốc-phát xít Pháp-Nhật không thể chung một thuộc địa như Đông 
Dương. Chúng tuy cấu kết với nhau nhưng mâu thuẫn giữa chúng rất gay gắt. - Trên thực tế :
 + Vào đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Ở mặt trận 
châu Âu, quân đội Liên Xô mở cuộc tiến công về phía Béc lin... Nước Pháp được giải phóng 
(8/1944), chính phủ kháng chiến Đờ Gôn về Pa-ri.
 + Ở mặt trận châu Á-Thái Bình Dương, phát xít Nhật khốn đốn trước các đòn tấn công 
dồn dập của Anh-Mĩ bộ cũng như trên biển.
 + Ở Đông Dương, thực dân Pháp nhân cơ hội cũng ráo riết hoạt động, đợi khi quân Đồng 
minh kéo vào đánh Nhật sẽ nổi dậy hưởng ứng để giành lại địa vị thống trị cũ.
 + Trước tình hình đó, quân đội Nhật Bản ra tay trước. Đêm 9/3/1945, Nhật đảo chính lật 
đổ Pháp để độc chiếm Đông Dương,... quân Pháp chống cự yếu ớt ở một vài nơi rồi nhanh chóng 
đầu hàng. Đông Dương từ chỗ là thuộc địa của Pháp- Nhật nay trở thành thuộc địa của Nhật...
 * Chủ trương và hành động của Đảng Cộng sản Đông Dương khi Nhật đảo chính 
Pháp:
 - Ngay khi tiếng súng đảo chính của Nhật vừa nổ, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp 
hội nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Từ Sơn-Bắc Ninh). Hội nghị ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn 
nhau và hành động của chúng ta”, xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông 
Dương lúc này là phát Nhật.
 - Hội nghị quyết định phát động một cao trào “Kháng Nhật, cứu nước” mạnh mẽ làm tiền 
đề cho cuộc Tổng khởi.
 - Thực hiện chủ trương của Đảng, từ giữa tháng 3/1945 trở đi, cách mạng đã chuyển sang 
cao trào, phong trào đấu tranh vũ trang và những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở 
nhiều địa phương. Ở khu căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng....Ở nhiều thành phố, thị xã....
 - Tháng 4/1945, Hội nghị quân sự Bắc Kì họp ở Hiệp Hoà (Bắc Giang). Hội nghị quyết 
định thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, phát triển hơn nữa lực 
lượng vũ trang và nửa vũ trang... xây dựng căn cứ địa kháng Nhật.... Uỷ ban quân sự cách mạng 
Bắc Kì được thành lập... 
 - Ngày 4/6/1945, Khu giải phóng Việt Bắc chính thức được thành lập...Uỷ ban Lâm thời 
Khu giải phóng đã thi hành 10 chính sách của Việt Minh đem lại quyền lợi cho nhân dân. Khu 
giải phóng trở thành căn cứ địa chính của cả nước và là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam 
mới.
 - Phong trào phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, đã đáp ứng được yêu cầu bức 
thiết của quần chúng, thu hút hàng triệu người tham gia, báo trước giờ hành động quyết định sắp 
tới. - Qua khởi nghĩa từng phần lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang được củng cố phát triển 
vượt bậc... quần chúng nhân dân được tập dượt đấu tranh, sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền 
khi thời cơ đến. 
Câu 10 : Bối cảnh lịch sử và chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong 
thời kỳ 1939- 1945?
a. Hoàn cảnh lịch sử:
9.1939 chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ( 1939- 1945) Đức chiếm được phần lớn Châu 
Âu, đến 6.1940 phát xít Đức kéo vào nước Pháp, chính phủ Pháp đã đầu hàng.
Ở Viễn Đông, Nhật cũng đẩy mạnh xâm lược Trung Quốc và cho quân tiến sát biên giới Việt – 
Trung.
Đức đánh chiếm Liên Xô, việc Liên Xô tiến hành chiến tranh giữ nước vĩ đại và tham gia cuộc 
chiến tranh chống phát xít làm cho tính chất của cuộc chiến tranh thay đổi ( từ phi nghĩa trở 
thành chính nghĩa) một bên là bọn phát xít với một bên là các lực lượng hoà bình dân chủ mà 
Liên Xô là lực lượng to lớn làm nòng cốt.
Lúc này là cơ hội thuận lợi cho các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đứng lên giải phóng mình 
9.1945 phát xít Nhật kéo quân vào Đông Dương, Pháp đã đầu hàng dâng nước ta cho Nhật. Nhật 
lấn bước biến Đông Dương thành thuộc địa và làm căn cứ chiến tranh của chúng.
23.7.1941 Nhật – Pháp ký hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương
Nhật – Pháp cấu kết thoả hiệp với nhau để áp bức bóc lột nhân dân ta đến tận xương, tuỷ 
Hậu quả của sự thống trị của Pháp – Nhật là gây ra nạn đói khủng khiếp cuối năm 1944 đầu 1945 
làm cho hơn hai triệu người chết đói.
Trước tình hình ấy làm cho mâu thuẫn dân tộc vốn gay gắt lại càng thêm gay gắt. Vì vậy lúc này 
quyền lợi của tất cả các giai cấp phải tạm gác lại, đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của dân tộc bởi 
nếu quyền lợi dân tộc không đòi được thì quyền lợi của tất cả các giai cấp nghìn năm cũng không 
có được.
b.Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng trong thời kỳ 1939- 1945.
Trước bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước như vậy Đảng CSĐD chỉ thị cho cán bộ hoạt động 
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật, chuyển trọng tâm 
công tác về nông thôn, vùng sâu, vùng xa nơi chính quyền thực dân có nhiều sơ hở thành các căn 
cứ địa rộng lớn vững chắc của cách mạng, đồng thời Đảng vẫn duy trì những cơ sở ở thành thị, 
kết hợp chặt chẽ phong trào ở thành thị với nông thôn. Nhanh chóng chuyển hướng chỉ đạo cách 
mạng đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Quá trình chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 
cách mạng thông qua các hội nghị sau: *6.11.1939 hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại Bà Điểm ( Hóc 
Môn) do đồng chí tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì.
Hội nghị đã phân tích tính chất của chiến tranh thế giới thứ 2, vị trí của Đông Dương trong cuộc 
chiến tranh đó, chính sách của Pháp, thái độ của các giai cấp xã hội 
-Từ sự phân tích đó, hội nghị xác định mục tiêu trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh 
đổ đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc Đông Dương làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
- Vấn đề giải phóng dân tộc được xem là nhiệm vụ hàng đầu và cấp bách nhất của cách mạng.
- Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược để phù hợp với sự chuyển 
hướng đó , khẩu hiệu cũng thay đổi: Chống địa tô cao, chống cho vay lãi nặng, tịch thu ruộng đất 
của đế quốc, địa chủ tay sai chia cho dân nghèo.
- Chủ trương thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương ( mặt trận phản đế 
Đông Dương) thay cho mặt trận dân chủ Đông Dương không còn phù hợp với tình hình mới nữa 
nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp, giai cấp, dân tộc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc phát 
xít giành lại độc lập cho các dân tộc ở Đông Dương.
- Về phương pháp cách mạng: Chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ sang đấu tranh 
trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp sang 
hoạt động bí mật và bất hợp pháp.
KL: Nghị quyết Hội nghị lần VI của TW Đảng đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng về 
đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng. Nó chứng tỏ sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn, 
sự nhạy bén, năng lực sáng tạo của Đảng trước những biến đổi của tình hình.
* Từ 10 đến 19.5.1941 hội nghị trung ương lần VIII của BCH TW Đảng tại Pắc Pó ( Cao 
Bằng) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì , hội nghị đã phân tích tình hình thế giới, trong nước và 
đi đến chủ trương:
- Tán thành nghị quyết của hội nghị trung ương lần VI: Đặt vấn đề giải phóng dân tộc lên nhiệm 
vụ hàng đầu, xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là Pháp – NHật và tay sai do vậy 
trước hết phải giải phóng được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách Pháp – Nhật.
- Tạm gác khẩu hiệu: “ đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng các khẩu hiệu “ 
Tịch thu ruộng đất của đế quốc và việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại 
ruộng đất công, tiến tới thực hiện “ người cày có ruộng”
- Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho mỗi nước: “ Ai lao độc lập đồng minh hội” ở 
Lào, “ Cao Miên độc lập đồng minh hội “ ở Cam pu chia, ở VN thành lập : VN độc lập đồng 
minh ( gọi tắt là Việt Minh) bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc nhằm : “ 
Liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, 
không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và 
sinh tồn” - Quyết định phải xúc tiến chuẩn bị mọi mặt để tiến tới 1 cuộc khởỉ nghĩa vũ trang khi có điều 
kiện, đi từ khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa. Hội nghị nhấn mạnh phải coi việc 
chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng và dân ta lúc này.
KL: Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII đánh dấu 1 bước tiến so với Nghị quyết 
trung ương Đảng lần VI. Vì đã hoàn chỉnh được chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược 
cho cách mạng. Nghị quyết của hội nghị trung ương Đảng lần VIII có ý nghĩa quyết định đối với 
sự thành công của cách mạng tháng 8 – 1945 ở Việt Nam và ghi nhận sự đóng góp của Nguyễn 
Ái Quốc trong buổi đầu về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng nước ta.
Câu 11 Phân tích thời cơ của tổng khởi nghĩa Tám năm 1945 và vạch rõ vì sao nói đây là 
“Thời cơ ngàn năm có một” ?
 *Thời cơ của tổng khởi nghĩa tháng Tám:
 Tổng khởi nghĩa tháng Tám diễn ra khi thời cơ đã chín muồi, quần chúng cách mạng trong 
cả nước được tập hợp và rèn luyện qua quá trình chuẩn bị tập hợp lực lượng, đặc biệt là qua cao 
trào “ Kháng Nhật cứu nước” nên đã sẵn sàng vùng dậy.
 Đảng cộng sản Đông Dương đã chuẩn bị đầy đủ quyết tâm phát động và lãnh đạo quần 
chúng giành chính quyền. Trong khi đó Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước Đồng minh vô điều 
kiện vào ngày (14/8/1945). Quân Nhật ở Đông Dương vô cùng hoảng hốt, chính quyền bù nhìn 
Trần Trọng Kim bị tê liệt, mất hết chỗ dựa, kẻ thù hoang mang, tan rã cao độ.
 *Nói đây là “Thời cơ ngàn năm có một” Vì:
 Giữa lúc phát xít Nhật và tay sai đang hoang mang tan rã như vậy thì cả một tập đoàn đế 
quốc Anh, Pháp và quân Tưởng Giới Thạch đang ráo riết kéo vào Đông Dương. 
Trước tình hình đó, Đảng ta quyết định phải giành chính quyền từ tay Nhật, lật đổ chính quyền 
bù nhìn tay sai. Đứng ở vị trí người chủ nhà để đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân đội 
Nhật. Nếu chúng ta hành động chậm trễ khi quân Đồng minh vào Đông Dương là thời cơ không 
còn nữa.
 Câu 12 Trình bày hoàn cảnh lịch sử, diễn biến chính của Cách mạng tháng Tám năm 
1945.
 a) Hoàn cảnh lịch sử:
 Thế giới (Khách quan): Chiến tranh thế giới thứ hai đang tới những ngày cuối. Ở Châu Âu, 
tháng 5/1945 phát xít Đức đầu hàng quân Đồng minh không điều kiện. Ở Châu Á-Thái Bình 
Dương ; tháng 8/1945 Nhật cũng đầu hàng vô điều kiện. Khi đó, các nước Đồng minh chưa kịp 
vào Đông Dương để giải giáp quân đội Nhật. Trong nước (Chủ quan): quân Nhật và bè lũ tay sai của chúng hoang mang đến cực độ, lính 
Nhật mất hết tinh thần chiến đấu. Trong khi đó, lực lượng cách mạng của ta lớn mạnh, nhân dân 
đã sẵn sàng, Đảng ta có sự chuẩn bị chu đáo trong suốt 15 năm.
 Như vậy, Cách mạng tháng Tám nổ ra trong điều kiện khách quan và chủ quan hoàn toàn chín 
muồi. Đó là thời cơ ngàn năm có một (vì nó rất hiếm và rất quý, nếu bỏ qua thì thời cơ không 
bao giờ trở lại nữa). Nhận thức rõ thời cơ có một không hai này, Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Đây là 
thời cơ ngàn năm có một cho dân tộc ta vùng dậy. Lần này dù có phải thiêu cháy dãy Trường 
Sơn cũng quyết giành độc lập cho đất nước”.
 Đứng trước hoàn cảnh thuận lợi ấy, Đảng và Hồ Chí Minh kịp thời phát lệnh Tổng khởi nghĩa 
trong cả nước. Điều này được thể hiện qua Hội nghị toàn quốc của Đảng, Quốc dân Đại hội Tân 
Trào và thư gửi đồng bào cả nước của Hồ Chủ Tịch.
 b. Những diễn biến chính: (từ 14/8 đến 28/8/1945).
+ Từ ngày 14/8/1945, tuy chưa nhận được lệnh Tổng khởi nghĩa nhưng khởi nghĩa đã nổ ra ở 
nhiều địa phương thuộc các tỉnh đồng bằng sông Hồng và miền Trung.
+ Chiều ngày 16/8/1945, theo lệnh của Uỷ ban khởi nghĩa, một đơn vị giải phóng do Võ Nguyên 
Giáp chỉ huy, xuất phát từ Tân Trào tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên, mở đường về Hà 
Nội.
+ Từ 14 đến 18/8/1945 có 4 tỉnh giành được chính quyền sớm nhất là Bắc Giang, Hải Dương, Hà 
Tĩnh và Quảng Nam.
+ Tại Hà Nội: từ ngày 15 đến 18/8 phong trào chuẩn bị khởi nghĩa của quần chúng ngày càng sôi 
sục. Ngày 19/8/1945, Hà Nội giành được chính quyền.
+ Ngày 23/8/1945, ta giành chính quyền ở Huế. 
+ Ngày 25/8/1945, ta giành chính quyền ở Sài Gòn. 
+ Ngày 28/8/1945, hầu hết các địa phương trong cả nước giành được chính quyền.
+ Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại thoái vị.
 Như vậy chỉ trong vòng 15 ngày (từ 14/8 đến 28/8/1945) tổng khởi nghĩa tháng Tám đã thành 
công trong cả nước. Lần đầu tiên trong cả nước chính quyền về tay nhân dân.
Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào Hà Nội, Chủ tịch Hồ 
Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam 
dân chủ Cộng hòa.
Câu 13: Ý nghĩa lịch sử, nguyên nhân thắng lợi và bài học kinh nghiệm của cách mạng 
tháng tám 1945? Nguyên nhân nào mang tính chất quyết định chính? Vì sao? a. Ý nghĩa lịch sử:
 Đối với dân tộc: 
- Cách mạng tháng tám là 1 sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nó đã phá tan hai tầng 
xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp và phát xít Nhật, đồng thời lật nhào chế độ quân chủ chuyên 
chế tồn tại ngót ngàn năm
Việt Nam từ 1 nước thuộc địa đã trở thành 1 nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa 
nhân dân ta từ địa vị nô lệ thành người độc lập, tự do, làm chủ nước nhà.
- Cách mạng tháng tám mở ra 1 kỷ nguyên mới- kỷ nguyên độc lập tự do
Đối với thế giới
- Cách mạng tháng tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của 1 dân tộc nhược tiểu đã tự 
giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân. 
- Thắng lợi đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc 
địa trên thế giới, đặc biệt là nhân dân châu Á, châu Phi.
b. Nguyên nhân thắng lợi:
- Nguyên nhân chủ quan:
- Dân tộc VN có truyền thống yêu nước sâu sắc, đấu tranh kiên cường bất khuất từ ngàn xưa cho 
độc lập – tự do. Vì vậy, khi Đảng CS Đông Dương và mặt trận Việt Minh phất cao ngọn cờ cứu 
nước thì mọi người hăng hái hưởng ứng.
- Có khối liên minh công nông vững chắc, tập hợp được mọi lực lượng yêu nước trong một mặt 
trận dân tộc thống nhất rộng rãi, biết kết hợp tài tình đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, 
đấu tranh du kích với khởi nghĩa từng phần ở nông thôn, tiến lên phát động tổng khởi nghĩa cả ở 
nông thôn và thành thị, đánh đổ hoàn toàn bộ máy cai trị của đế quốc phong kiến, giành chính 
quyền về tay nhân dân.
Nguyên nhân khách quan
Cách mạng tháng tám thành công nhanh chóng và ít đổ máu một phần nhờ có hoàn cảnh quốc tế 
thuận lới. Chiến tranh thế giới thứ hai đang đi đến hồi kết thúc, Hồng quân Liên Xô và quân 
Đồng minh đã đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức- Nhật, góp phần quyết định vào thắng lơi chung 
của các lực lượng hoà bình dân chủ trên thế giới.
 Trong các nguyên nhân trên, nguyên nhân quan trọng và mang tính quyết định nhất là 
nguyên nhân chủ quan bởi vì: Nếu quần chúng nhân dân không sẵn sàng anh dũng đứng lên, nếu 
Đảng không sáng suốt tài tình, nhận định đúng thời cơ thì thời cơ sẽ qua đi. Vì thế nguyên nhân chủ quan mang tính chất quyết định còn nguyên nhân khách quan chỉ 
là sự hỗ trợ, là thời cơ để Đảng sáng suốt phát động quần chúng nhân dân đứng lên giành chính 
quyền trong thời gian ngắn chỉ 15 ngày ; có được kết quả thắng lợi đó là sự chuẩn bị 15 năm của 
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta.
 c. Bài học kinh nghiệm
 - Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kết hợp đúng đắn, sáng tạo 
nhiệm vụ dân tộc và dân chủ; đưa nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu, giải phóng 
dân tộc, giành độc lập tự do cho tổ quốc.
 - Đánh giá đúng và biết tập hợp mọi lực lượng của các giai cấp cách mạng, trong đó công-
nông là đội quân chủ lực.Trên cơ sở liên minh công-nông phân hoá, cô lập kẻ thù rồi tiến lên 
đánh chúng.
 - Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm bạo lực cách mạng của quần chúng theo quan 
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin; tiến hành khởi nghĩa vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang với 
đấu tranh chính trị; kết hợp đấu tranh du kích, khởi nghĩa từng phần ở nông thôn với đấu tranh 
chính trị ; khởi nghĩa ở đô thị để khi thời cơ đến khởi nghĩa giành chính quyền.
 - Kết hợp chuẩn bị lâu dài với việc chớp thời cơ.

File đính kèm:

  • docxchuyen_de_boi_duong_hsg_mon_lich_su_8_chuyen_de_lich_su_viet.docx